Sunday, February 10, 2008

Mùa rau cần




Ngày mồng 4 Tết ra, theo phong tục, nhà nhà làm cỗ cúng hóa vàng tiễn tổ tiên về cõi âm: Nhà khó chẳng có cỗ bàn gì cũng quệt môi nhả bã trầu nói cười bả lả: "Ăn thịt nhờn cả môi, tiễn các cụ về đường âm mà được bát canh rau cần thì ngon quá!".

Thật ra thì ba mươi Tết mà trong nhà không có được nén hương thì biết bao tủi hổ. Cho nên không có thì người ta cũng phải làm như ta đây hình như đã tươm tất. Người ta ngán mỡ màng thật hay là giả, ai cũng làm ra vẻ thèm cái rau, cái bánh khúc, hơn là miếng thịt, nồi cá kho.

Bánh khúc, mớ rau cần bày bán ngoài chợ, bán mở hàng. Trời đất còn hợp với Tết nhất, lành lạnh mưa phùn lăn phăn, ngẩn ngơ. Rau cải trong vườn đương bỡi. Trên đống cao, những cây lá khúc mọc hoang ngoài đồng ra hoa vàng hây như hoa cải. Trẻ con đua nhau đi hái từng rổ lá và hoa khúc về làm bánh.

Tết ra, cái bánh khúc và bát rau cần được chuộng hơn miếng thịt. Cây cần luộc chấm tương ngọt đậm. Rau cần nấu canh suông cũng ngọt nước.

Mùa này kiếm được cây cần chẳng khó khăn gì, nhưng thật diệu vợi, nhiêu khê. Cây cần mọc vào mùa đông ở các cánh đồng trũng đã gặt chỉ còn xâm xấp nước. Cần lên lá xanh om, ngó cần tước ra bẹ trắng ngần, muối xổi ăn ngay được. Mùa này người ta thường nấu canh cần ăn khi ra Tết.

Nhưng cây cần để giống thật công phu. Gốc cần bé bằng củ hành. Hái rau xong, nhổ củ rửa sạch phơi qua cho khô rồi bọc lá sen treo lên xà ngang gác bếp.

Suốt năm phơi trên bếp, như thế cho đến tháng mười rỡ xuống đem ra chợ bán. Người đến mua củ cần giống đem về cấy xuống ao ngoài vườn hay đưa ra các bờ ruộng đồng sâu còn ướt bùn.

Những gốc cần lên nhanh như nghể. Vào khi Tết ra, hiếm rau, chợ nào cũng bán rau cần.

Rồi sang năm, người các nơi, chợ bên Bắc, chợ bên Đông lại gồng gánh đi mua củ cần giống về cấy rau ăn Tết hóa vàng.


Saturday, February 09, 2008

Cổ tích ngày Xuân




Túi ba gang
Nguyễn Bính

Nhân nắng xuân đầm ấm
Vườn xuân rộn tiếng chim
Chị kể cho các em
Nghe một câu chuyện cổ

Các em tìm trong đó
Những ý nghĩa sâu xa
Có bổ ích cho ta
Tuổi măng non tươi sáng

Nào các em im lặng
Ngồi sát lại cho vui
Ngày xưa có hai người
Anh Kỷ, em là Ất

Xảy khi cha mẹ mất
Vội chẳng kịp trối trăn
Chỉ dặn hai con rằng
Cơ nghiệp cùng chung hưởng

Kỷ cậy mình là trưởng
Lại vốn tính tham lam
Chẳng thương xót gì em
Cả gia tài chiếm hết

Nào tường hoa cây mít
Nào ao cá, nhà lim...
Chỉ chia cho người em
Một mảnh vườn nhỏ bé

Trơ trọi một cây khế
Xa tít tận cuối làng
Ất chẳng tính thiệt hơn
Cứ vui lòng nhận lấy

Hai vợ chồng trồng cây
Mùa rau tiếp mùa khoai
Khi khế chín vàng cây
Vợ chồng đem chợ bán

Hôm ấy vừa tảng sáng
Có một con Phượng Hoàng
Từ đâu bay vào vườn
Ðậu cành, ăn khế mãi

Ất ra vườn thấy thế
Cất tiếng bảo chim rằng:
- Nhà ta vốn nghèo nàn
Chỉ trông vào cây khế

Chim ơi! mày ăn khế
Là khốn vợ chồng ta!
Chim Phượng chừng nghe ra
Cất tiếng kêu vội vã:

- Ăn một quả
Trả nén vàng
May túi ba gang
Ðem đi mà đựng!

Thế rồi cứ sáng sáng
Chim Phượng lại bay về
Ăn khế ngọt chán chê
Lại kêu lên giục giã:

- Ăn một quả
Trả nén vàng
May túi ba gang
Ðem đi mà đựng

Vợ chồng Ất bàn định
Thử đi một chuyến xem
Vợ liền lấy chỉ kim
Khâu cho chồng túi vải

Y theo lời chim nói
Sáng sau, chim Phượng Hoàng
Từ phương xa bay lại
Ất liền mang túi vải
Cưỡi lưng Phượng mà đi
Qua sông biển ầm ì
Phượng liền sà cánh đỗ

Xuống một hòn đảo nhỏ
Vô số là bạc vàng
Ất chẳng có lòng tham
Chỉ lượm vừa túi nhỏ

Khi mặt trời đứng ngọ
Ðã giục chim bay về
Nhờ được số vàng kia
Hai vợ chồng sung sướng

Mua trâu rồi tậu ruộng
Giúp đỡ những người nghèo
Cuộc sống thật phong lưu
Hơn người anh gấp bội

Kỷ biết tin tức tối
Liền hộc tốc sang chơi
Ất kể rõ đầu đuôi
Kỷ máy tham bỗng nổi

Liền gạ em đánh đổi
Lấy cơ nghiệp của mình
Vợ chồng Ất hiền lành
Nên chẳng hề suy tỵ

Ðổi ngay nhà cho Kỷ
Không đòi hỏi gì thêm
Kỷ dọn sang nhà em
Ngày lại ngày ngóng đợi

Quả nhiên chim lại tới
Ăn khế chín trên cây
Kỷ chạy ra nói ngay
Chim cũng liền đáp lại:

- Ăn một quả
Trả nén vàng
May túi ba gang
Ðem đi mà đựng!

Kỷ lòng mừng hí hửng
May luôn túi sáu gang
Cốt đựng cho nhiều vàng
Thỏa lòng tham không đáy

Sáng sau chim bay tới
Kỷ vội cưỡi mà đi
Qua sóng biển ầm ì
Hạ xuống hòn đảo quý

Kỷ tha hồ tự ý
Nhét vàng đầy túi to
Lòng tham vẫn chưa vừa
Thấy vàng là cứ nhặt

Túi áo nhồi đã chặt
Lại giắt kín lưng quần
Chim giục giã mấy lần
Kỷ vẫn còn tiếc rẻ

Kỷ mang nhiều vàng quá!
Chim bay qua biển khơi
Mỏi rã cánh, hụt hơi
Liền hất tung Kỷ xuống

Lòng biển sâu muôn trượng
Mặt biển rộng mù khơi
Ðã dìm Kỷ chết tươi
Với lòng tham không đáy

Câu chuyện cổ như vậy
Các em hẳn nhận ra
- Tham lam là xấu xa
- Thực thà là đáng quý

Các em đừng quên nhé
Câu chuyện Túi Ba Gang.

- - - - - - - -
Đây có lẽ là sáng tác duy nhất cho thiếu nhi của nhà thơ Nguyễn Bính.

Wednesday, February 06, 2008

Hương lá mùi và nghi lễ tắm tất niên




Xuất hiện như tín hiệu mùa vào tháng Mười âm lịch, khi những chiếc xe đạp chở phía sau xanh um những bó mùi hương quyến luyến các ngả đường, len vào từng ngõ phố. Loài cây như cô gái mảnh mai nói với tạo vật bằng hương thơm từ khi mới lộ trên mặt đất lá mầm xanh biếc, mùi hương làm nên ý nghĩa sự tồn tại của loài cây ấy, từ tên gọi: Cây Mùi.

Từ lúc xanh non đến khi già, mùi luôn được bó mớ. Lúc xuân thì, nó là rau sống, là gia vị mà ai cũng có thể ăn, thứ rau thơm kèm được với nhiều món mà không e khắc vị. Như gia vị, người ta bó mớ mùi ấy bằng sợi lạt nút mỏng; bằng bàn tay, thân mùi chừng 10 đến 13cm, để nguyên đoạn rễ (cả rễ cũng có mùi thơm), những chùm rễ trắng còn vương chút đất. Rau mùi không bao giờ thiếu trên quầy rau thơm, mẹt rau góc chợ, gánh hàng rong gánh phố trưa khê ngủ hay lúc buông chiều.

Như những loài cây gieo trồng bằng hạt, cây mùi có thời gian sinh trưởng ngắn, chẳng khi nào người trồng nhổ hết. Những luống mùi để già, cao chừng hai gang tay chi chít những quả nhỏ như hạt đỗ, cũng ngào ngạt mùi hương, như là, như thân mùi. Đây chính là thứ "đặc sản" không thể thiếu trong những ngày Đông giá hay khi he hé Xuân về. Những vùng ven đô hay bãi phù sa sông Hồng quanh năm trở mình mùa vụ, vào độ cuối năm lại thơm một mùi thơm tỏa lan và khoáng đạt. Mùi của hoa, của đủ thứ rau thơm, mùi của phù sa ngàn năm bồi lở, mùi lá và hoa mùi cất mình lên khơi luồng lan chảy vào không gian trong giác quan cảm xúc của người.

Từ lâu lắm rồi, người phụ nữ Việt Nam vẫn gội đầu bằng bồ kết. Quả bồ kết nướng thơm, cho vào nồi đun sôi, có thể đun thêm cả vỏ bưởi, rồi gội với chanh. Các cô cầu kỳ thích gội lá hương nhu hay đung nước cỏ mần trầu cho tốt tóc, lại rắc thêm vài bông hoa bưởi vào độ tiết Xuân. Thời hiện đại, có biết bao loại dầu gội đầu: Sunsilk, Pantene, Essential, Enchanteur, Sifone, Clear, Head and Shoulders, Lux, Lifebouy, Mỹ Hảo, Daso... nhưng bồ kết và hương lá mùi vẫn là loại "dầu gội" tốt nhất cho tóc, hiển lộ xuyên thời gian bằng việc vượt qua một cách ngạo nghễ bởi sự yêu thích của các cô, các bà. Mùi hương xuyên qua những thế kỷ như một trong những biểu hiện của đồng bằng Bắc bộ, của văn minh lúa nước sông Hồng, của chốn thôn làng qua bao biến thiên vẫn giữ được phong tục cổ truyền, đất lề quê thói.

Những cô gái đua nhau cắt tóc tém mà tôi thấy, bỗng nhiên lại nuôi tóc dài. Dường như mái tóc dài vẫn là mốt của mọi thời đại, người con gái nuôi tóc dài, để thấy mình nữ tính hơn trong gợi cảm mềm mại, dịu dàng. Nhìn những cửa hiệu gội đầu, những đầu tóc được chăm sóc bởi những ngón tay mơn trớn, bỗng thèm được thấy cảnh bến nước giếng làng...

Cây đa, bến nước, sân đình là ba hiện diện của làng quê vùng đồng bằng ngàn năm, nơi phản ánh đời sống tự cư, tính cộng đồng gắn kết của người nông dân với quê hương, xứ sở. Hình ảnh những cô thôn nữ mặc yếm ra bến làng gội đầu chiều tất niên, bỗng thấy như huyền thoại, khiến ta như trở về ấu thơ với niềm tin một ngày gặp được những cô tiên giáng trần thường tắm gội vui đùa rồi thay xiêm y mới. Còn những-cô-tiên-tóc-đen trong tiềm thức ấy của tôi, thì đang bay khắp trần gian suốt mùa Xuân cùng hương lá và hoa mùi quyến rũ. Quyến rũ, với những cảm giác thánh thiện, mơ mộng và ngọt ngào hơn tất cả những loại nước hoa đắt tiền, sang trọng. Tắm tất niên bằng nước đun với lá mùi gắn với tâm thức người Việt như một nghi thức tất yếu. Người muốn tắm gội nước lá hoa mùi, đã được thỏa mãn vào cữ tháng Mười, nhưng hầu hết tất cả mọi người đều thấy cần phải tắm gội thứ nước ấy vào chiều cuối cùng của năm (âm lịch). Cùng với việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, ai cũng muốn thân thể mình sạch sẽ. Và nước lá hoa mùi, không chỉ cho người ta được sạch sẽ, gột rửa bụi trần, mà còn được tắm rửa tinh thần, để cả tâm hồn và toàn thân thể được tinh khiết, thơm tho, thanh thản trong cảm giác bay bổng, yên bình. Mùi hương của mùi ngấm vào thịt da, như thể con người vừa làm nghi lễ cho mình. Tôi cho rằng việc tắm gội lá mùi chiều ba mươi Tết là nghi lễ thuộc về văn hóa tinh thần. Nó tồn tại không nhất thiết phải hiện hữu trước mắt, mà trong ý nghĩ, hồi ức và hoài niệm của chúng ta. Hoài niệm về những cái còn, cái mất. Như những ngôi nhà cổ cuối cùng và những bức tranh phố cuối cùng còn lại ở Việt Nam của Bùi Xuân Phái. Như những khuôn mặt già nua của các bà hàng xén, hàng rau với mẹt rau có những mớ rau thơm bé xíu "lướt" vào chiều không gian xa ngái khi mà các siêu thị đang tới tấp mọc lên. Như bóng dáng ông đồ viết câu đối mừng năm mới. Như tiếng pháo nổ giòn trong truyện, thơ và ký ức...

Người với người gần nhau hơn, thân ái hơn, khi tắm lá mùi mùa Xuân và hương thơm làm người ta tĩnh tâm sau bao mệt mỏi của cuộc mưu sinh và vòng quay bon chen, tham vọng... Hình như khi một cô gái mang hương lá mùi trên thân thể, ai cũng muốn gần cô hơn. Ý thức bản năng và giới tính trước hương mùi gợi cảm và tinh khiết, được bao bọc bởi niềm đam mê thanh sạch.

Tôi như thấy các mẹ, các bà trẻ lại, khi tắm gội nước lá mùi và hong tóc trước sân. Những sợi lá mùi vương vào mái tóc nhiều muối tiêu của bà gội xanh người về thời son trẻ.

Tôi vẫn tin ở sự bền vững của những tình yêu lớn lao và cao cả. Như vẫn sung sướng với niềm tin vào nghi lễ tắm gội lá mùi, một nghi lễ linh thánh gắn kết vĩnh viễn những cặp uyên ương, những cặp vợ chồng mãi là người yêu của nhau nhờ mùi hương vượt qua mọi giới hạn khi phu thê quấn quýt tắm gội cho nhau bằng nước lá mùi, để tình yêu không bao giờ có tuổi, lại thăng hoa trong cảm xúc tươi mới, hồn nhiên, đằm thắm vô bờ.

(V.T.L - Báo TT&VH Xuân 2001)